Truyện / Truyện ngắn / Người bắt chim lợn

Người bắt chim lợn

Người bắt chim lợn

Tôi đọc được thông tin tuyển dụng trên một trang web tìm việc làm chẳng mấy tên tuổi. Một công ty vô danh, ngành nghề không rõ ràng, thậm chí chẳng có hệ thống email riêng. Nội dung tuyển dụng chưa đến năm trăm chữ nhưng đầy rẫy lỗi chính tả, câu cú đá nhau chan chát. Kẻ nào viết ra đoạn thông tin đăng tuyển này xứng đáng bị xử bắn vì tội cưỡng hiếp bảng chữ cái được tám mươi lăm triệu người sử dụng. Thứ tầm thường vậy nhưng tôi vẫn ráng đọc cho hết, vì lần đầu tiên nghe đến loại công việc này: “Tuyển người bắt chim lợn.”

Tôi đã thất nghiệp đâu được năm tháng gì đó, chẳng nhớ chính xác. Cứ ngồi một chỗ cả ngày thì thấy thời gian ngừng lại ngay. Ngày tháng trở thành những con số vô hồn và sau mỗi giấc ngủ ta lại tự hỏi bây giờ là sáng sớm hay chiều muộn. Thay vì lấy dao vạch lên cửa để đánh dấu mỗi ngày trôi qua, hay viết lên cuốn lịch treo tường, tôi đã chọn một phương pháp khác đơn giản hơn, lại chẳng cần ghi nhớ các con số cụ thể, ấy là theo dõi quá trình phân hủy chuột chết.

Phía sau nhà tôi là một bãi đất hoang đang chờ xây dựng trung tâm thương mại. Đúng cái ngày tôi bị sa thải, xác một con chuột cống nằm chình ình trên đống xà bần, kiêu hãnh như một chiến binh hy sinh nơi trận địa. Đôi mắt nó trắng dã, mở to và nhìn thẳng về phía cửa sổ phòng tôi, nơi có một gã trai hai mươi tư tuổi đang chán nản dí mũi vào kính cửa sổ ướt nhẹp nước mưa. Ánh mắt đó như một lời thách thức rằng, liệu tôi có thể tìm được công việc mới trước khi cái xác phân hủy hoàn toàn hay không. Được thôi, tôi tự nhủ trong lòng, cho dù mày chỉ là một con chuột chết, tao vẫn chấp nhận lời thách thức.

Thế nhưng đâu dễ tìm được một công việc mới trong bối cảnh Việt Nam xếp thứ hai thế giới về mức độ hạnh phúc. Kinh tế suy thoái, đồng tiền mất giá khiến cho các doanh nghiệp phá sản như cơm bữa hoặc tinh giảm biên chế cật lực. Trong một tháng đầu tiên, tôi rất sốt sắng vận động các mối quan hệ và lùng sục trên internet để tìm việc, đồng thời gửi porfolio đi khắp nơi. Hầu hết họ chẳng bao giờ gọi cho tôi. Chỉ một số ít chịu thu xếp phỏng vấn, đa phần đều đòi hỏi trình độ của một thiên tài với mức lương cho người không biết chữ. Đến tháng thứ hai thì tôi quyết tâm nâng cao vốn tiếng Anh với hy vọng sẽ lọt qua khe cửa hẹp của một công ty nước ngoài nào đó. Nhưng tôi vốn là một kẻ yêu tiếng mẹ đẻ tha thiết và căm thù ngôn ngữ của bọn tư bản bóc lột nên đến tháng thứ ba thì đống sách vở đã yên vị trong gầm giường. Từ đó trở đi, tôi chán nản chẳng muốn học hành hay tìm việc nữa. Ngày nào tôi cũng chỉ quanh quẩn trong nhà, xem phim, chơi game, đọc sách, thủ dâm, ăn và ngủ.

Con chuột không suy nghĩ phức tạp như tôi, nó chỉ có một việc là chết. Ngày qua ngày, lũ dòi bọ, kiến, mưa, nắng và các loại vi khuẩn thay phiên nhau giúp nó đến đích. Giờ thì tôi đã hiểu vì sao càng ngày càng có nhiều người tìm đến cái chết mỗi khi gặp sự bế tắc trong cuộc sống. Chẳng ai giúp họ vượt qua khó khăn của người sống, nhưng lại có cả một hệ sinh thái hỗ trợ họ giải quyết vấn đề của người chết.

Đến tháng thứ năm thì tôi đã kịp xem gần hết những bộ phim hay nhất trong một thập kỷ trở lại đây, hoàn thành tất cả game mà chiếc máy vi tính cũ rích đủ cấu hình chơi, đọc số sách không còn đủ chỗ trống trên kệ, và ngủ nhiều đến độ biến cuộc sống thực thành những giấc mơ chán ngắt tẻ nhạt. Đúng lúc con chuột chỉ còn một ít xương khô vàng vụn dính trên nền đất cứng trong khi tôi sắp phát điên, thì công việc “bắt chim lợn” xuất hiện.

***

“Xin hỏi tên anh?” Tôi đưa tay ra bắt người đồng nghiệp mới của mình, kèm theo câu hỏi xã giao lịch sự.

“Tôi quên chưa nói với cậu nguyên tắc đầu tiên của công việc này: Không tên. Chúng ta sẽ gọi nhau bằng tên các kẻ thù của loài chim lợn. Tôi là Rắn, cậu sẽ là Chuột.” Anh chàng đồng nghiệp to béo dõng dạc tuyên bố với giọng điệu quyết đoán của kẻ bề trên.

Hiển nhiên là tôi không thích cái biệt danh này, nó khiến tôi nghĩ tới một nhúm xương đang nằm đâu đó ngoài kia.

“Chẳng phải chuột và rắn cũng là kẻ thù sao?” Tôi phản đối.

“Đúng thế. Nhưng theo nguyên tắc số bốn, người đến trước được quyền đặt biệt danh cho người đến sau.” Anh ta khoác tay.

“Sao cũng được.” Tôi nhún vai. Tôi đã từng đi làm ở vài công ty và rút ra bài học quý giá cho mình: Đừng gây sự với đồng nghiệp ngay ngày làm việc đầu tiên.

Dường như nhận ra mình đang làm cho ấn tượng đầu trở nên căng thẳng, Rắn cười to thành tiếng, một điệu cười không giống ai, như bản giao hưởng của ếch nhái giữa đêm mưa. Sau đó, anh ta bắt tay tôi thật chặt và bắt đầu hướng dẫn tôi những công đoạn đầu tiên để bắt chim lợn. Anh cho biết đã làm công việc này một mình suốt ba năm qua.

Đây là một công việc lạ lùng từ cái tên cho đến cách thực hiện. Thời gian ra ngoài kiếm mồi của chim lợn là từ tám giờ tối đến nửa đêm, thế nên đó cũng là “giờ hành chính” của chúng tôi. Rắn và tôi được cấp cho một cái nhà kho nhỏ, nơi chứa các công cụ tác nghiệp và giấy tờ hành chính. Rắn phân công cho tôi mang đồ ra xe trong lúc anh ta gửi e-mail về công ty. Chiếc xe tải loại nhỏ hiệu Suzuki màu xanh, đã toác hết lớp sơn cũ, trông thảm hại và buồn bã trong cơn mưa đêm. Tôi ném tất cả lên thùng xe rồi chui vào cabin, ngồi tựa lưng vào ghế bọc da đã sút chỉ, rũ rũ nước mưa trên tóc. Đến giờ tôi mới có thời gian để tự hỏi mình đang làm cái quái gì ở đây.

Tiếng cửa cuốn nhà kho đóng lại sau gáy tôi, Rắn mở cửa xe phía bên kia, ngồi sau tay lái, đóng sập cửa rồi tra chìa khóa vào ổ. Sau khoảng vài lần đề máy, đèn pha lóe sáng, xuyên qua làn mưa đang ngày càng nặng hạt phía trước. “Điểm đến của chúng ta hôm nay là nhà xác bệnh viện Nhi.” Rắn dõng dạc tuyên bố như người thuyền trưởng đang chỉ hướng cho thủy thủ đoàn. “Thực ra chúng ta chỉ có một điểm đến duy nhất đó thôi.”

Chẳng có ai ra đường vào tối thứ Tư mưa gió, nên Rắn cho xe phóng khá nhanh. Chiếc xe coi cà tàng vậy mà chạy rất êm, hầu như chỉ nghe thấy tiếng cần gạt nước gạt qua gạt lại và tiếng nước mưa rơi lộp độp trên đầu. Thỉnh thoảng đèn đường rọi vào bên trong cabin, tạt một luồng sáng xuyên qua mặt chúng tôi. Rắn ra vẻ tập trung lái xe, nhưng cách đăm chiêu nhìn về phía trước lại khiến tôi cho rằng anh ta đang suy nghĩ về một việc gì đó thì đúng hơn. Chiếc cằm của anh chảy xệ và nhăn nheo, làm bộ râu quai nón lởm chởm trùng xuống gần chạm xương quai xanh.

James Blunt đang hát bài 1973. Chẳng biết vì giàn âm thanh tốt hay bởi vì bài hát rất hợp với hoàn cảnh mà tôi thấy nó hay hơn bình thường. Tôi mới chỉ xem duy nhất một video clip của James Blunt, đó là You are beautiful. Vậy nên bất kể nghe bài hát nào của anh ta, tôi cũng nghĩ ngay đến cảnh James đang ngồi trên băng giá, cởi dần từng món đồ trên người mình, bất kể bài hát nào, chẳng cần phải là You are beautiful.

“Âm thanh được đấy chứ? Tôi đã đầu tư cho chiếc xe khốn khổ này đấy. Mặc dù đã vi phạm nguyên tắc thứ bảy là không thay đổi kết cấu công cụ làm việc, nhưng không có âm nhạc thì đời nhạt lắm.” Rắn kéo tôi từ miền băng giá trở về ghế ngồi.

“Tôi hỏi anh câu này được không.” Tôi với tay vặn nhỏ âm thanh.

“Cứ tự nhiên. Nguyên tắc thứ ba là các nhân viên phải hỗ trợ nhau về mọi mặt trong công việc.” Rắn trả lời, mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước.

“Ban nãy tôi có thấy anh gửi e-mail tới công ty. Anh đã liên lạc với ai vậy?”

“Nguyên tắc thứ hai: Không thắc mắc về công ty. Cứ yên tâm rằng mỗi tháng tiền lương sẽ chuyển về tài khoản của cậu. Họ chưa từng chậm lương của tôi suốt ba năm qua. Ngoài ra, nếu có thông báo họ sẽ gửi e-mail.” Nụ cười của Rắn đã tắt, không khí bỗng trùng xuống đột ngột như bị nén trong nồi áp suất.

“Nhưng ít nhất tôi cũng nên biết mình đang làm gì chứ?”

“Cậu sẽ đi bẫy chim lợn, giữ cho chúng còn sống, nhốt chúng vào lồng, để trong kho, và sáng hôm sau sẽ có người đến lấy.” Rắn trả lời, thân hình to béo của anh ta đang nhún nhảy theo điệu nhạc.

“Anh đã bắt được bao nhiêu con chim lợn trong ba năm qua?” Tôi hỏi tiếp.

Rắn quay mặt về phía tôi, đây là lần đầu tiên trong suốt chuyến đi anh ta rời mắt khỏi con đường. Anh dõng dạc trả lời như thể điều này chẳng có gì bất thường.

“Chưa một con nào.”

***

Chúng tôi dừng xe dưới một tán cây rộng và xum xuê, bên ngoài bức tường rào nhà xác bệnh viện. Đến giờ tôi mới nhận ra mình đang làm một công việc phi pháp là đánh bắt loài chim đã được liệt vào sách đỏ. Có lẽ đây là lý do tôi không bao giờ được biết người thuê mình là ai, và nếu bị bắt quả tang thì khả năng bóc lịch là rất cao. Tuy vậy, thay vì sợ hãi, cơ thể tôi lại tiết ra một nỗi niềm phấn chấn khó tả. Dù sao công việc mạo hiểm này vẫn tốt hơn là nhũn người trong xó nhà và quan sát xác chuột chết.

“Tôi biết là cậu làm việc này hoàn toàn chỉ vì tò mò. Nhưng sự tò mò sẽ giết chết cậu trước khi cậu nhận ra nó.” Rắn vừa nói vừa lôi đồ nghề từ thùng xe xuống. “Tốt nhất là hãy học tập tôi, không thắc mắc gì hết, cứ ngậm miệng lại và lĩnh món tiền lương hậu hĩnh vào mùng mười hàng tháng.”

Anh ta quan sát một lượt xung quanh và chỉ tay vào một góc đường, nơi giao nhau giữa bức tường cao đến ba mét của bệnh viện với vỉa hè bao quanh con sông gần đó. Chẳng cần nói tôi cũng biết đấy sẽ là địa điểm đặt bẫy.

“Tôi sẽ làm những việc gì vậy?” Tôi hỏi.

“Hôm nay là buổi đầu tiên nên cậu cứ đứng đây quan sát tôi làm, ngày mai sẽ đến lượt cậu.” Rắn trả lời, rồi rảo bước thật nhanh về phía góc đường. Trời đã tạnh mưa, để lại trên mặt đường ẩm ướt rất nhiều vũng nước to và ngập đến mắt cá. Tuy vậy, Rắn vẫn bước phăm phăm về phía trước, mặc kệ nước bắn tung tóe ướt sũng giầy. Đèn đường chiếu xuống, kéo cái bóng của anh thành một vệt đen dài, uốn éo như một con rắn đang săn mồi.

“Anh đang trêu tôi phải không?!!” Tôi chỉ thẳng vào cái bẫy vừa được hoàn thành chóng váng, cứ ngỡ mình nhìn nhầm.

Đây là loại bẫy chim cổ nhất thế giới. Một chiếc lồng hình bán nguyệt bằng kim loại to hơn chiếc lồng bàn một chút, được tạo thành một góc nhọn so với mặt đất bởi một ống nước đứng thẳng. Một đầu ống buộc dây, loại dây dù vẫn dùng trong cắm trại. Đầu dây còn lại nằm trong tay Rắn, lúc này đang cùng tôi nấp sau một bụi rậm cách cái bẫy khoảng mười mét. Điểm nhấn và cũng là sự lố bịch nhất của chiếc bẫy chính là mồi nhử, một tấm keo dính chuột với một con chuột cống to bằng bắp tay đang dính chặt trên đó. Nó thở thoi thóp và phát ra tiếng chít chít yếu ớt như kẻ tử tội đang sám hối. Theo lý thuyết mà tôi được học từ bé, đây là loại bẫy dành cho các loài chim nhỏ. Người ta rắc gạo hoặc thóc vào trong chiếc lồng, đợi khi chim bay vào mổ, họ giật mạnh sợi dây làm đổ ống nước, chiếc lồng rơi xuống và thế là con chim đã ký vào bản án tù chung thân.

“Với chiếc bẫy như thế này thì một triệu năm nữa anh cũng chẳng bắt được con chim lợn ngu ngốc nhất.” Tôi rít lên qua kẽ răng, đã lâu lắm rồi tôi mới lại tức giận đến thế.

Rắn ra hiệu cho tôi hãy bình tĩnh. “Cậu sẽ làm chúng ta bị lộ đấy. Chiếc bẫy này tuy thô sơ, nhưng dễ dựng, và quan trọng nhất là đảm bảo sự an toàn cho lũ chim.”

“Không thể tin nổi một công ty hoạt động bí mật, đặt ra hàng tá luật lệ kỳ quặc lại để cho anh sử dụng loại bẫy chim sẻ này. Đã vậy anh còn bắt tôi mang theo một đống cuốc, xẻng, cưa máy, ròng rọc để làm gì?”. Tôi hạ giọng, nhưng vẫn chưa nguôi sự phẫn nộ.

“Thứ nhất là chẳng có điều luật nào kiểm soát cách chúng ta bẫy chim. Họ chỉ quan tâm rằng ta có bắt được chim cho họ hay không. Thứ hai là tôi muốn giúp cậu vận động một chút, cũng như làm cho công việc này đỡ tẻ nhạt hơn thôi. Khoác lên mình những bộ mặt lạnh lùng, lại mang theo một đống đồ nghề như sắp sửa làm một phi vụ lớn, cậu không thấy chúng ta rất ngầu hay sao?” Rắn che miệng cười, đây là lần đầu tiên tôi thấy anh ta cười một cách thoải mái. Thì ra sự căng thẳng từ tối đến giờ chỉ là giả tạo, một kiểu ma cũ bắt nạt ma mới dạng nhẹ.

Tôi thở dài, chẳng buồn đôi co với anh ta nữa. Tôi kiếm một viên gạch khô làm ghế ngồi, sau đó xoa kem chống côn trùng lên mặt và cổ tay. Chẳng thể tưởng tượng được có những giống loài và tội ác nào ẩn chứa trong các bụi cây rậm rạp thế này.

Mười phút trôi qua, không gian vẫn yên lặng như một bức tranh vẽ cảnh hồ nước ban đêm. Về tổng thể, bức tranh toàn màu xanh tím than âu sầu. Nửa phía dưới là mặt hồ lượn sóng, được vẽ bằng màu đỏ đậm và nâu đất, trông sền sệt như miếng thịt ba chỉ. Nửa trên là một bãi đất trống toàn cây cối màu vàng nghệ, đó là màu của đèn đường. Điểm nhấn của bức tranh, cũng là nơi ánh sáng chiếu vào mạnh nhất, một cái bẫy chim sẻ được vẽ bằng nét chì cẩu thả. Chuột và Rắn không xuất hiện trong bức tranh. Họ đang nấp đâu đó trong bụi rậm được vẽ bằng chổi nét to.

“Chuột này, cậu đã từng nhìn thấy chim lợn chưa?” Rắn phá vỡ sự im lặng. Dường như chính anh ta cũng bắt đầu chán việc chờ đợi.

“Chưa bao giờ. Tôi mới chỉ nghe tiếng của chúng, không khác gì lợn bị cắt tiết.” Tôi nhún vai.

“Tôi được biết một câu chuyện rất rùng rợn từ những người trông nhà xác. Chẳng biết độ xác thực đến đâu, nhưng lại là giả thuyết duy nhất giải thích cho công việc của chúng ta.” Rắn nói.

Tôi khoanh tay, ngồi thẳng lưng, tỏ ý đang lắng nghe đây.

“Cách đây khoảng năm năm, bệnh viên tiếp nhận một ca cấp cứu giữa đêm khuya. Nạn nhân là một bé trai mới mười hai tuổi. Nó chơi đùa trên ban công tầng bốn và bị trượt chân. Khi người ta mang nó đến, trán nó đã toác làm đôi, tất cả xương cốt vỡ vụn như bánh đa. Thế nhưng nó vẫn tỉnh táo để cảm nhận sự đau đớn tột cùng. Các bác sĩ trực hôm đó đều ngán ca này, vì bố của thằng bé là một quan chức biến chất rất có quyền lực. Chẳng có tội ác gì mà ông ta chưa làm: Mua bán chức vụ, cướp đất của dân, tham nhũng, nhận hối lộ, bảo kê cho xã hội đen. Họ sợ nếu thằng bé chết, ông ta sẽ làm họ thân bại danh liệt.”

“Phải chăng kẻ thù của ông ta đã làm hại thằng bé?” Tôi khá hào hứng với câu chuyện này, dù biết rằng có thể đây chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của một kẻ rỗi hơi nào đó.

“Chẳng biết.” Rắn tặc lưỡi. “Có người thì bảo là những người bị ông ta hại quay lại trả thù, có người lại phán là do nhân quả. Nhưng chi tiết đó không quan trọng. Phần sau của câu chuyện mới đáng sợ.”

“Chắc hẳn phải có liên quan đến những con chim lợn?” Tôi tự đặt ra giả thuyết.

“Đúng thế.” Rắn trả lời. “Đứa bé đã phải trải qua hai giờ đồng hồ đau đớn mới được giải thoát. Trên đường từ phòng cấp cứu sang nhà xác, một đàn chim lợn hàng mấy trăm con từ đâu xà xuống mổ xác đứa nhỏ. Những người có mặt hôm đó đều quả quyết chưa từng nhìn thấy nhiều chim lợn đến thế trong đời. Trông chúng giận dữ, đầy thù địch. Cách chúng tấn công tàn ác như những sát thủ, chứ không còn là những con chim hiền lành chỉ biết bắt chuột. Tiếng kêu của chúng thê lương và quằn quại như hàng trăm con lợn trong lò mổ. Chúng tấn công nhau để tranh giành từng mẩu thịt, từng đường gân của xác chết, đến mức rỉa cả vào mắt, vào bụng nhau.

Bố thằng nhỏ gần như đã phát điên sau vụ đó. Ông ta thề sẽ moi họng từng con chim để đòi lại các bộ phận của đứa con tội nghiệp.”

“Và đó là sự tích về người bắt chim lợn dùng bẫy chim sẻ phải không?” Tôi cười khẩy.

Rắn chỉ nhún vai. “Đó là manh mối duy nhất mà tôi điều tra được. Dù những người thuê chúng ta là ai thì họ cũng là bậc thầy về xóa dấu vết và che giấu thân phận.”

“Thật kỳ lạ vì mới chỉ một tiếng trước anh vẫn còn khuyên tôi nên câm miệng và đừng tò mò về những người đó.” Tôi thắc mắc.

“Bởi vì trong xe có gắn thiết bị nghe trộm.” Rắn giả bộ nắm một con chip tưởng tượng bằng hai ngón trỏ và cái. “Đó là lý do vì sao họ không muốn tôi can thiệp vào chiếc xe. Cậu nghĩ những người đó ngu ngốc đến mức để cho chúng ta chạy rông ngoài đường và luyên thuyên về công việc này sao?”

“Hồi mới làm, tôi cũng tò mò ghê gớm lắm. Cái khao khát tìm ra sự thật nhiều phen khiến tôi mất ăn, mất ngủ. Thế nhưng, sau ba năm điều tra như trong phim trinh thám, tất cả những gì tôi có được là câu chuyện dùng để dọa trẻ con kia.” Rắn lắc đầu, nhổ một bãi nước bọt xuống đất.

“Giờ anh đã bỏ cuộc chưa?” Tôi hỏi.

“Tôi không bỏ cuộc, mà chính cái khao khát đó đã bỏ rơi tôi. Cũng vào một đêm như đêm nay cách đây nửa năm, tôi chợt nhận ra mình đang phí thời gian vào một việc vô ích. Giống như ném một bó đuốc xuống biển để soi đáy của nó vậy. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu sau này cậu cũng có ý định đi vào con đường của tôi, mà chắc chắn là sẽ cậu sẽ làm thế. Nhưng đừng quá để tâm đến nó, dù cậu có đạt được mục đích của mình hay không, nó cũng chẳng mở ra cánh cửa nào cho cậu.” Rắn trả lời. Tay của anh đã buông sợi dây từ lúc nào.

“Anh nói cứ như thể đây là buổi làm việc cuối cùng của mình vậy.”

Tôi vốn chỉ định nói một câu chiếu lệ nhằm xóa tan sự trầm lắng của cuộc chuyện trò, nào ngờ anh ta chỉ chờ câu này của tôi.

“Thì đúng là thế mà! Thôi hôm nay nghỉ sớm. Để tôi mời cậu bữa ăn khuya, coi như tiệc chia tay.”

Chẳng thèm quan tâm đến thái độ kinh ngạc của tôi, Rắn đứng dậy vươn vai và nhanh chóng thu dọn chiếc bẫy. Con chuột làm mồi vẫn còn sống và run lẩy bẩy. Rắn cuốn tròn nó trong chiếc keo dính trước khi ném vào sọt rác. Chẳng có bóng dáng lẫn tiếng kêu của một con chim lợn nào quanh đây.

***

Chừng nửa tiếng sau, chúng tôi yên vị trên ghế đá với một lốc bia lạnh và hai chiếc bánh mỳ kẹp trứng rán. Ở phía bên kia đường là một một cây si già cỗi rất to, đang vươn những tán cây khổng lồ chắn hết tầm nhìn của dãy nhà cũ xây theo kiểu Pháp từ những năm năm mươi của thế kỷ trước. Mười một giờ rưỡi đêm, không gian yên tĩnh đến độ có thể nghe tiếng nhai thức ăn rất phô trương của Rắn, tiếng rao của một người bán bánh giò dạo và tiếng lá xào xạc mỗi khi có một cơn gió đầu thu lướt dọc con đường. Ngoài đèn đường thì hầu như không còn một ánh sáng tự phát nào nữa. Chỉ có vài ngôi nhà là còn sáng đèn, nhưng là màu đỏ dịu của đèn ngủ. Tôi bắt đầu thấy có cảm tình hơn với Rắn. Trước đó tôi không nghĩ đầu óc của anh ta đủ sâu sắc để đắm chìm trong một khung cảnh như thế này, dạng khung cảnh khiến cả những kẻ vô tâm nhất cũng phải thừ người ra mà ngưỡng mộ. Tôi đoán nhà anh ta chắc hẳn ở quanh đây, nếu không cũng là địa điểm ưa thích của anh mỗi lần muốn hóng mát sau giờ làm. Ban nãy, sau khi mua đồ ăn, anh ta đã phóng xe về thẳng con đường này, như thể đã đi theo hành trình đó hàng trăm lần rồi.

Rắn vừa ăn vừa trình bày cho tôi biết về nguyên tắc thứ tám của công việc. Mỗi nhân viên bị bắt buộc thôi việc khi có người mới vào thay, và đó cũng là điều kiện duy nhất để được chấm dứt công việc này. Nói cho dễ hiểu thì hôm nay là buổi làm việc đầu tiên của tôi và cuối cùng của Rắn. Anh ta chỉ còn nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ và bàn giao những gì dang dở cho tôi. Dĩ nhiên tôi có thể từ chối, đồng nghĩa anh ta vẫn phải tiếp tục nó cho đến khi có một người khác vào thay. Ở phía ngược lại, Rắn cũng có quyền không chấp nhận tôi và giữ lại công việc của anh ta.

“Công việc này không buồn chán và ngớ ngẩn như bề ngoài đâu, thu nhập lại tốt nữa.” Rắn cố gắng thuyết phục tôi.

Tôi không thấy đói nên nhường chiếc bánh mỳ của mình cho Rắn, đổi lại tôi được thêm một lon bia. Đắm chìm trong màn đêm đẹp tuyệt vời khiến tôi có cảm giác việc ăn uống là một sự xúc phạm. Khung cảnh này thích hợp để ngồi vắt vẻo trên một cái ban công nào đó, uống trà và nghe nhạc của Celine Dion hơn. Tuy nhiên, bia cũng chấp nhận được.

“Nếu vậy sao anh còn muốn từ bỏ nó? Anh chẳng qua chỉ là một kẻ ích kỷ muốn chạy trốn khỏi công việc chán ngán nhất trần đời mà bản thân anh không thể thoát ra được nếu không có người khác tự nguyện thế chỗ.” Tôi phản bác.

Rắn im lặng, hết nhìn tôi rồi lại nhìn chằm chằm vào một khung cửa sổ vẫn sáng đèn ở phía bên kia đường, sau đó thở dài như tiếc nuối một điều gì ghê gớm lắm.

“Rõ ràng là cậu đang có ác cảm với công việc này. Thôi được rồi, để cậu thấu hiểu nó, trước tiên tôi phải làm cậu hiểu được tôi đã. Mặc dù như vậy đồng nghĩa rằng tôi phải phá bỏ nguyên tắc thứ năm: Các nhân viên không được tiết lộ thông tin cá nhân cho nhau.”

***

Chừng hai tháng trước khi trở thành Người bắt chim lợn, Rắn gặp phải biến cố lớn trong đời. Người phụ nữ anh yêu suốt bốn năm qua đã bỏ rơi anh. Từng có lúc họ tính đến chuyện kết hôn. Nhưng rồi một buổi chiều muộn, khi bầu trời đỏ rực ánh dương mùa hạ, nàng thẳng thắn chê chàng không có công ăn việc làm ổn định, nếu lấy nhau sẽ chẳng có tương lai vững chắc. “Em phải kết hôn với một người hơn mình ít nhất năm tuổi. Anh ta có sự nghiệp và cung cấp đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần cho em suốt cuộc đời.” Cô nói như thế trước khi đóng sập cánh cửa sắt hoen gỉ trước mặt Rắn. Mặt đất đang nứt dần ra dưới chân anh, bầu trời chứa chấp cả một biển máu chuẩn bị đổ sập xuống đầu anh, trong khi một cơn giông kéo đến thổi tung anh đi như những bộ quần áo tuột khỏi dây phơi.

Con đường nhỏ nằm yên tĩnh giữa lòng thành phố nhộn nhạo với vỉa hè đầy rêu và nham nhở gạch vỡ, cây si to lớn thả những chùm dây leo như lông của một con chó ướt, khu nhà cổ kính có hệ thống hành lang và cầu thang ngoằn nghèo, mỗi khi trời nắng là một chùm những tia sáng tràn ngập giếng trời… Chúng rất đỗi thân thuộc với Rắn suốt những năm tháng qua, vậy mà giờ đây trở nên xa lạ, thù ghét anh. Cõi lòng anh như một đất nước yên bình và trù phú bỗng chốc hoang tàn xơ xác vì một trận bão lớn. Cơn bão âm thầm vượt qua những bức tường thành, hất tung các con đê chắn bão, quét qua khu dân cư, phá sạch sành sanh hoa màu, tình yêu, niềm tin và hy vọng.

Rắn chẳng níu kéo hay cầu xin cô quay lại. Trái lại, anh còn lấy nỗi đau làm động lực cho mình. Được thôi, để xem cô có tìm được một thằng đàn ông có thể chu cấp cho cô suốt đời, hay là chính tôi sẽ trở thành thằng đàn ông đó, và cô sẽ quỳ xuống mà xin tôi quay lại với cô. Tất nhiên, Rắn không thách đố trực tiếp với cô. Anh giữ kín nó trong lòng, như thức ăn nuôi sống hận thù và thúc đẩy mình vươn lên.

Thế nhưng dù đã cố gắng dành hết tâm trí và sức lực để làm việc, nỗi buồn vẫn ám ảnh Rắn như một vết thương sâu hoắm. Thậm chí đã có những tối anh nấp ở phía bên kia đường, nhìn chằm chằm vào ngôi nhà có năm bậc cầu thang dẫn lên cửa chính. Ban đầu, anh trách mình đã làm một việc quá ngu ngốc. Nhưng rồi chính anh lại tự trấn an bản thân rằng ta làm như vậy chỉ để biết được cô ta có đến đích trước ta hay không thôi mà. Vậy là từ vài tối một tuần, nay thì tối nào anh cũng nấp ở một góc đường, để xem có ai đưa đón cô hay không, từ chín giờ tối đến nửa đêm, từ ngày này qua tháng khác, từ hạ sang đông.

Chẳng có ai tìm đến vào mỗi tối, và cô vẫn tập yoga đến mười một giờ đêm mới ngủ. Nhưng Rắn thì không được yên bình như vậy. Thức khuya mỗi đêm khiến anh làm việc không hiệu quả vào ban ngày. “Đêm nào cậu cũng mặc bộ đồ Batman bó sát người đi bắt tội phạm hả?” Ông giám đốc tung ra một câu chế nhạo rồi lạnh lùng ký quyết định cho anh thôi việc. Chẳng sao cả, anh ngáp một tràng thật đã đời sau khi đọc được đoạn thông tin tuyển dụng trên một trang web tìm việc làm chẳng mấy tên tuổi. Một công ty vô danh, ngành nghề không rõ ràng, thậm chí chẳng có hệ thống email riêng.

Công việc bắt chim lợn càng tạo điều kiện cho anh theo dõi cô. Anh chỉ làm việc đến mười rưỡi tối, sau đó quay trở lại với con phố nhỏ, dù cho phải khổ sở với muỗi, cái oi bức của đêm hè hay cái lạnh buốt da thịt của đêm đông.

Một năm sau cô lấy chồng. Chú rể thật đĩnh đạc, hơn cô sáu tuổi, chẳng phải loại giàu sụ nhưng cũng có con đường công danh tươi sáng. Rắn bị sốc nặng đến mức ốm liệt giường hàng tuần trời. Rõ ràng anh đã theo dõi cô chặt chẽ, không bỏ sót một đêm nào. Gã kia có thể ở đâu chui ra cơ chứ? Họa chăng hắn có là chuột, hoặc cô có thể tàng hình thì mới qua mặt được anh. Đến tận bây giờ Rắn vẫn thắc mắc điều đó, nhưng anh chẳng bao giờ tìm ra câu trả lời.

Chỉ còn lại một mình với công việc tẻ nhạt nhất thế giới, Rắn mới nhận ra mình đã lãng phí những năm tháng qua một cách vô ích. Lẽ ra, anh cứ nhắc đi nhắc lại cái từ “lẽ ra” hàng trăm, hàng nghìn lần mỗi đêm. Lẽ ra thời gian và công sức dành cho vụ cá cược vô nghĩa kia, anh nên dùng để tái thiết đất nước hoang tàn đổ nát trong anh suốt mấy năm qua mới phải. Đất nước đó nay đã hoang hóa và chẳng còn chút dấu hiệu gì của sự sống.

***

“Tại sao anh không tự ý từ bỏ công việc? Đâu có ai bắt ép anh phải tuân thủ chính xác các nguyên tắc? Chẳng phải anh cũng đã phá vỡ nhiều nguyên tắc trong số đó sao?” Tôi thắc mắc.

“Thật khó để giải thích cho cậu. Cứ cho là đời tôi chưa từng làm đến nơi đến chốn một việc nào cả. Nếu tôi tự ý nghỉ việc, có thể công ty sẽ không phạt tôi quá nặng, nhưng bản thân tôi sẽ ghi nhận đó là một sự thất bại nhục nhã khác.” Rắn giải thích. “Tôi đã tự cá cược với mình một lần nữa, rằng sẽ kết thúc công việc trong tư thế ngẩng cao đầu.”

“Vả lại, anh nói tiếp, công việc này tuy khiến tôi bị thế giới lãng quên, nhưng đồng thời nó giúp tôi có thời gian suy ngẫm về nhiều thứ.”

“Ví dụ?” Tôi nhướn mày.

“Ví dụ như bữa ăn đêm sẽ ngon hơn rất nhiều nếu vừa chén vừa nhìn vào cửa sổ phòng bạn gái cũ.”

“Đầu óc anh có vấn đề thật rồi.” Tôi nói.

“Cám ơn đã nhắc.” Rắn cười lớn.

Đầu tôi bắt đầu quay mòng mòng vì chất cồn. Những tiếng ong ong như kèn Vuvuzela từ đâu dội vào tai tôi. Tôi vứt vỏ lon bia vào thùng rác rồi ngồi xổm dưới đất mà ôm đầu. Trong cơn co thắt của các dây thần kinh, tôi nhìn thấy mình nấp trong bụi rậm, một tay cầm sợi dây, nửa lỏng nửa chặt giống như Rắn đã cầm suốt buổi tối hôm nay. Mắt tôi nhìn chằm chằm vào chiếc bẫy chim ở cách đó mười mét. Thậm chí tôi còn không dám thở mạnh, không dám có những cử động nhỏ nhất, vậy mà vẫn chẳng có một con chim lợn nào xuất hiện, không có tiếng kêu, không có tiếng đập cánh. Có thể chúng đã chén no say thịt người và cảm thấy không cần thiết phải ở lại trên những cái tổ cao chót vót nơi cột điện hay mái nhà nữa, nên đã đồng loạt di cư đến vùng đất khác. Chỉ có mình tôi, vẫn ngồi trong bụi rậm từ ngày này qua tháng khác, dõi mắt vào một khoảng trống lạnh lẽo vô hồn, luẩn quẩn với một câu hỏi không bao giờ có lời đáp.

Cái nào đáng sợ hơn, bị mắc kẹt trong một căn phòng hay bị thế giới lãng quên?